Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2018

Minh Mục Tông – Wikipedia tiếng Việt


Minh Mục Tông Long Khánh hoàng đế Chu Tái Hậu

Minh Mục Tông (chữ Hán: 明穆宗, 4 tháng 3, 1537 - 5 tháng 7, 1572), là Hoàng đế thứ 13 của nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc, trị vì từ năm 1567 đến năm 1572, tổng cộng 6 năm. Trong suốt thời gian trị vì, ông chỉ dùng niên hiệu Long Khánh (隆慶), nên thường được gọi là Long Khánh đế (隆慶帝)

Tuy chỉ trị vì trong 6 năm, nhưng Long Khánh Đế được xem là một trong những Hoàng đế chăm chỉ và thông thoáng nhất triều Minh. Thời kỳ của ông tiếp tục thiết lập trật tự xã hội ổn định, kinh tế phát triển hưng khởi, tiếp nối thành tựu từ thời Gia Tĩnh trung hưng, vì thế sử sách xưng gọi Long Khánh tân chính (隆慶新政).





Mục Tông hoàng đế tên thật là Chu Tái Hậu (朱載垕), sinh vào ngày 4 tháng 3, năm 1537 tại Tử Cấm Thành, Bắc kinh. Ông là con trai thứ ba của Minh Thế Tông, mẹ là Khang phi Đỗ thị.

Năm 1539, khi vừa lên 2 tuổi, ông được phong làm Dụ vương (裕王). Đến năm 1549, anh trai ông là Trang Kính Thái tử qua đời, Dụ vương Chu Tái Hậu vì thế được lập làm Hoàng thái tử kế vị.

Năm 1567, Minh Thế Tông mất, Thái tử Chu Tái Hậu lên ngôi, lấy niên hiệu Long Khánh (隆慶), mở đầu thời đại Long Khánh tân chính (隆慶新政).



Đế quốc Trung Hoa được Minh Mục Tông thừa hưởng đầy những xáo trộn gây ra bởi sự quản lý tồi và nạn tham nhũng. Để chấn chỉnh sự hỗn loạn do cha mình gây ra trong suốt một thời gian dài, Mục Tông đã thực hiện việc cải cách triều chính bằng cách sử dụng một loạt các quan lại có tài như Từ Giai, Cao Củng, Trần Dĩ Cần, Trương Cư Chính.

Thả Hải Thụy và 32 quan lại bị khép tội triều trước, đồng thời bỏ tù Đạo sĩ Vương Kim, một sủng thần của cha mình. Bên cạnh đó, ông chủ trương nối lại quan hệ ngoại giao với các quốc gia châu Âu, châu Phi (?), giảng hòa với Mông Cổ. Nhằm tăng cường an ninh biên giới trên đất liền và trên biển, ông đã bổ nhiệm những tướng lĩnh có tài như Du Đại Du, Thích Kế Quang trấn thủ vùng cảng biển Triết Giang và Phúc Kiến, ngăn chặn nạn cướp biển từ Nhật Bản (Oa khấu), vốn hoành hành một thời gian dài từ thời Minh Thế Tông.



Năm 1572, ngày 5 tháng 7, Minh Mục Tông chết, hưởng dương 35 tuổi. Trước khi qua đời, Mục Tông đã di mệnh lại cho đại thần Trương Cư Chính phò tá cho đứa con trai thứ mới 10 tuổi của mình là Chu Dực Quân (朱翊鈞) lên kế vị, tức Minh Thần Tông, niên hiệu là Vạn Lịch.

Thần Tông tôn vua cha miếu hiệu là Mục Tông (穆宗), thụy hiệu là Khế Thiên Long Đạo Uyên Ý Khoan Nhân Hiển Văn Quang Vũ Thuần Đức Hoằng Hiếu Trang hoàng đế (契天隆道淵懿寬仁顯文光武純德弘孝莊皇帝), gọi tắt là Mục Tông Trang hoàng đế (穆宗莊皇帝). Mục Tông được chôn cất tại Chiêu lăng (昭陵).



Hậu phi[sửa | sửa mã nguồn]


  1. Hiếu Ý Trang hoàng hậu Lý thị (孝懿皇后李氏, ? - 1558), người Xương Bình, cha là Lý Minh (李铭). Chính thất vương phi khi chưa đăng cơ, qua đời trước khi Mục Tông lên ngôi. Sinh ra Hiến Hoài Thái tử, Tĩnh Điệu vương Chu Dực Linh và Bồng Lai công chúa.

  2. Hiếu An hoàng hậu Trần thị (孝安皇后陈氏, ? - 1596), người Thông Châu, cha là Cẩm y vệ Cố An bá Trần Cảnh Hành (固安伯陳景行). Thời Minh Thần Tông, được tôn làm Nhân Thánh hoàng thái hậu (仁圣皇太后). Không có con.

  3. Hiếu Định hoàng hậu Lý thị (孝定皇后, 1540 - 1612), người Thông Châu, cha là Vũ Thanh bá Lý Vỹ Phong (武清伯李伟封). Bà vào cung được phong Quý phi, sinh ra Minh Thần Tông, tôn phong làm Từ Thánh hoàng thái hậu (慈圣皇太后).

  4. Tần Thục phi (秦淑妃), cha là Tần Phụng (秦奉), sinh hạ Tê Hà Công chúa chết yểu, sau khi qua đời được ban thuỵ là Đoan Tĩnh Thục phi (端静淑妃)

  5. Lưu Trang phi (劉莊妃, ? - 1582), cha là Cẩm y vệ Chính thiên hộ Lưu Hiền (刘贤), thuỵ là Cung Huệ Trang phi (恭惠莊妃)

  6. Lý Đức phi (李德妃, ? - 1632), thọ hơn 80 tuổi, cha là Cẩm y vệ Chính thiên hộ Lý Nại (李柰)

  7. Vương Vinh phi (王榮妃, ? - 1580), cha là Cẩm y vệ Chính thiên hộ Vương Trạch (王泽), thuỵ là Trang Hy Vinh phi (庄僖榮妃)

  8. Nguỵ Anh phi (魏英妃)

  9. Lý Cung phi (李恭妃)

  10. Đổng Đoan phi (董端妃)

  11. Trang Kính phi (莊敬妃)

  12. Hứa Anh phi (許英妃)

  13. Tiền An phi (錢安妃)

  14. Tề Kính phi (齊敬妃)

  15. Ngô Cung phi (吳恭妃)

  16. Giang Hiền phi (江賢妃)

  17. Diệp Kỳ phi (葉奇妃)

  18. Vu Ý phi (于懿妃)

  19. Hàn Dung phi (韓容妃)

  20. Dương An phi (楊安妃)

  21. Triệu Hoà phi (趙和妃)

  22. Mã Huệ phi (馬惠妃)

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]


Hoàng tử[sửa | sửa mã nguồn]


Hoàng nữ[sửa | sửa mã nguồn]





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét